Nguyên Nhân Thành Công Của Những Người gốc Do Thái

Nguyên Nhân Thành Công Của Những Người gốc Do Thái

0 113
nguoi do thai

Chúng ta đều biết người Do Thái (thời cổ gọi là Hebrew) là dân tộc thành công nhất trên nhiều lĩnh vực trí tuệ, nhưng có lẽ ít ai biết họ thực ra còn cực kỳ xuất sắc trên mặt kinh tế, tài chính, thương mại.

Họ đạt được những thành tựu đó trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn: toàn bộ dân tộc Do Thái buộc phải sống lưu vong phân tán, “ăn nhờ ở đợ” suốt 2000 năm qua trên khắp thế giới, đi tới đâu (trừ ở Mỹ) cũng bị xa lánh hoặc hắt hủi, xua đuổi, tước đoạt, thậm chí hãm hại, tàn sát vô cùng dã man, bị cấm được sở hữu bất cứ tài sản cố định nào như nhà đất, tài nguyên thiên nhiên ….

Chỉ cần lướt các mạng tìm kiếm là ta có thể sưu tầm được ngay một số thành tựu cực kỳ gây ấn tượng của người Do Thái trên lĩnh vực kinh tế, dù là về mặt lý thuyết hay thực tiễn. Hãy xem một số số liệu sau đây:

Rất nhiều nhà lý thuyết kinh tế hàng đầu thế giới là người Do Thái, các lý thuyết họ xây dựng nên đã ảnh hưởng vô cùng to lớn nếu không nói là quyết định tới quá trình trình tiến hóa của nhân loại:

– Karl Marx (Các Mác) người khám phá ra “giá trị thặng dư” và xây dựng học thuyết kinh tế chủ nghĩa cộng sản sẽ thay thế cho chủ nghĩa tư bản, được gọi là một trong hai người Do Thái làm đảo lộn cả thế giới (người kia là Jesus Christ);

– Alan Greenspan 17 năm liền được 4 đời Tổng thống Mỹ tín nhiệm cử làm Chủ tịch Cơ quan Dự trữ Liên bang (FED, tức Cục Dự trữ liên bang Mỹ) nắm quyền sinh sát lớn nhất trong giới tài chính Mỹ, thống trị lĩnh vực tài chính tiền tệ toàn cầu;

– 41% chủ nhân giải Nobel kinh tế thời gian 1901-2007 là người Do Thái (cộng 13 người), chẳng hạn Paul Samuelson (1970), Milton Friedman (1976) và Paul Krugman (2008) … là những tên tuổi quen thuộc trong giới kinh tế thế giới hiện nay, các lý thuyết của họ được cả thế giới thừa nhận và học tập, áp dụng…

Nhiều nhà giàu nổi tiếng thế giới từng tác động không nhỏ tới chính trị, kinh tế nước Mỹ và thế giới là người Do Thái. Đơn cử vài người :

– Jacob Schiff, chủ nhà băng ở Đức, sau sang Mỹ định cư; đầu thế kỷ XX do căm ghét chính quyền Sa Hoàng giết hại hàng trăm nghìn dân Do Thái ở Nga, ông đã cho chính phủ Nhật Bản vay 200 triệu USD (một số tiền cực kỳ lớn hồi ấy) để xây dựng hải quân, nhờ đó Nhật thắng Nga trong trận hải chiến Nhật-Nga năm 1905. Nhớ ơn này, trong đại chiến II Nhật đã không giết hại người Do Thái sống ở Trung Quốc tuy đồng minh số Một của Nhật là phát xít Đức Hitler có nhờ Nhật “làm hộ” chuyện ấy.

– Sheldon Adelson, người giàu thứ 3 nước Mỹ năm 2007, với tài sản cá nhân lên tới 26,5 tỷ USD.

– George Soros giàu thứ 28 ở Mỹ (7 tỷ USD) nổi tiếng thế giới hiện nay về ý tưởng đầu tư và làm từ thiện quy mô lớn.

– Michael Bloomberg có tài sản riêng 5,1 tỷ USD, làm thị trưởng thành phố New York đã 8 năm nay với mức lương tượng trưng mỗi năm 1 USD và là chủ kênh truyền hình Bloomberg nổi tiếng trong giới kinh tế, đang được mong đợi sẽ là ứng cử viên Tổng thống Mỹ khóa tới…

Cộng đồng Do Thái ở Mỹ chiếm một nửa tổng số người Do Thái trên toàn thế giới là quần thể thiểu số thành công nhất ở Mỹ dù chỉ chiếm 2,5% số dân. Khoảng một nửa số doanh nhân giàu nhất Mỹ, 21 trong số 40 nhà giàu đứng đầu bảng xếp hạng của tạp chí Forbes là người Do Thái, và cộng đồng Do Thái có mức sống bình quân cao hơn mức trung bình của nước này.

Họ nắm giữ phần lớn nền kinh tế tài chính Mỹ, tới mức người Mỹ có câu nói “Tiền nước Mỹ nằm trong túi người Do Thái”. Nhờ thế trên vấn đề Trung Đông chính phủ Mỹ xưa nay luôn bênh vực và viện trợ Israel.

Nước Israel nhỏ bé với hơn 5 triệu người Do Thái tuy ở trên vùng sa mạc khô cằn nhưng nông nghiệp và các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật đều rất phát triển, dân rất giàu, GDP đầu người năm 2003 bằng 19.000 USD. Nhờ sức mạnh mọi mặt ấy, quốc gia nhỏ xíu này đã đứng vững được trong làn sóng hằn thù và công kích của cả trăm triệu người A Rập xung quanh …

Nguyên nhân do đâu?

Vì sao người Do Thái giỏi làm kinh tế trên cả hai mặt lý thuyết và thực hành như vậy? Lịch sử đã chứng minh, yếu tố quyết định thành công của một dân tộc bắt nguồn từ truyền thống văn hóa của dân tộc ấy.

Để tìm hiểu truyền thống văn hóa của dân tộc này có lẽ ta cần tìm hiểu các nguyên tắc chính của đạo Do Thái (Judaism), tôn giáo lâu đời nhất thế giới còn tồn tại tới ngày nay và là chất keo bền chắc gắn bó cộng đồng, khiến dân tộc này giữ gìn được nguyên vẹn nòi giống, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa mặc dù phải sống phân tán, lưu vong và bị kỳ thị, xua đuổi, hãm hại, tàn sát dã man suốt 2000 năm qua.

Có thể nói, nếu không có chất keo ấy thì từ lâu dân tộc Do Thái đã bị tiêu diệt hoặc đồng hóa và biến mất khỏi lịch sử. Đạo Do Thái là tôn giáo duy nhất thành công trên cả hai mặt: giữ được sự tồn tại của dân tộc và hơn nữa đưa họ vươn lên hàng đầu thế giới trên hầu hết các lĩnh vực trí tuệ.

Muốn vậy, ta thử điểm qua vài nét về Kinh thánh của người Do Thái (Hebrew Bible) – kinh điển này hơn 10 thế kỷ sau được đạo Ki-tô lấy nguyên văn làm phần đầu Kinh Thánh của họ và gọi là Cựu Ước, nhằm phân biệt với Tân Ước do các nhà sáng lập Ki-tô giáo viết. Ta cũng cần xem xét một kinh điển nữa của đạo Do Thái gọi là Kinh Talmud, quan trọng hơn cả Cựu Ước, có đưa ra nhiều nguyên tắc cụ thể cho tới thời nay vẫn còn giá trị về kinh doanh, buôn bán.

Trước hết người Do Thái có truyền thống coi kiến thức trí tuệ là thứ quý nhất của con người.

Kinh Talmud viết: Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được. Các ông bố bà mẹ Do Thái dạy con: Của cải, tiền bạc của chúng ta đều có thể bị kẻ khác tước đoạt nhưng kiến thức, trí tuệ trong đầu óc ta thì không ai có thể cướp nổi.

Với phương châm đó, họ đặc biệt coi trọng việc giáo dục, dù khó khăn đến đâu cũng tìm cách cho con học hành; ngoài ra họ chú trọng truyền đạt cho nhau các kinh nghiệm làm ăn, không bao giờ giấu nghề. Người Do Thái có trình độ giáo dục tốt nhất trong các cộng đồng thiểu số ở Mỹ, thể hiện ở chỗ họ chiếm tỷ lệ cao nhất trong sinh viên các trường đại học hàng đầu cũng như trong giới khoa học kỹ thuật và văn hóa nghệ thuật.

Thứ hai, đạo Do Thái đặc biệt coi trọng tài sản và tiền bạc. Đây là một điểm độc đáo khác hẳn đạo Ki-tô, đạo Phật, đạo Nho, ta cần phân tích thêm.

Có lẽ sở hữu tài sản là một trong các vấn đề quan trọng nhất của đời sống loài người, là nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa con người với nhau (đấu tranh giai cấp) và chiến tranh giữa các quốc gia. Heghel, đại diện nổi tiếng nhất của triết học cổ điển Đức từng nói: “Nhân quyền nói cho tới cùng là quyền (sở hữu) về tài sản.” Chính Marx cũng nói: Chủ nghĩa cộng sản “là sự phục hồi chế độ sở hữu của cá nhân trên một hình thức cao hơn”.

Rõ ràng, chỉ khi nào mọi người đều có tài sản, đều giàu có thì khi ấy mới có sự bình đẳng đích thực, người người mới có nhân quyền. Một xã hội có phân hóa giàu nghèo thì chưa thể có bình đẳng thực sự. Đạo Do Thái rất chú trọng nguyên tắc làm cho mọi người cùng có tài sản, tiền bạc, cùng giàu có.

Triết gia Max Weber viết: “Đạo Ki-tô không làm tốt bằng đạo Do Thái, vì họ kết tội sự giàu có.” Quả vậy, Chúa Jesus từng nói: “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Chúa” (Tân Ước, Mathew 19:24), ý nói ai giàu thì khó lên thiên đường, ai nghèo thì dễ lên thiên đường hơn – qua đó có thể suy ra đạo Ki-tô thân cận với người nghèo khổ. Nho giáo và đạo Phật lại càng khinh thường tài sản, tiền bạc, coi nghèo là trong sạch, giàu là bẩn thỉu.

Ngược lại Cựu Ước ngay từ đầu đã viết: “Vàng ở xứ này rất quý” (Genesis 2:12). Ý tưởng quý vàng bạc, coi trọng tài sản vật chất đã ảnh hưởng lớn tới người Do Thái, họ đều muốn giàu có.

Khái niệm tài sản xuất hiện ngay từ cách đây hơn 3000 năm khi vua Ai Cập bồi thường cho vị tổ phụ của bộ lạc Do Thái là Abraham, khiến ông này “có rất nhiều súc vật, vàng bạc” (Genesis 13:2). Thượng Đế Jehovah yêu cầu Abraham phải giàu để có cái mà thờ cúng Ngài. Thượng Đế cho rằng sự giàu có sẽ giúp chấm dứt nạn chém giết nhau. Khi Moses dẫn dân Do Thái đi khỏi Ai Cập cũng mang theo rất nhiều súc vật.

Những người xuất thân gia đình giàu có hồi ấy như Jacob, Saul, David … đều được Cựu Ước ca ngợi là có nhiều phẩm chất tốt, lắm tài năng, lập được công trạng lớn cho cộng đồng dân tộc và đều trở thành lãnh đạo, vua chúa. Ngược lại, văn hóa phương Đông thường ca ngợi phẩm chất của những người nghèo.

Trọng tiền bạc là đặc điểm nổi bật ở người Do Thái.

Họ coi đó là phương tiện tốt nhất để bảo vệ mình và bảo vệ dân tộc họ. Quả vậy, không có tiền thì họ làm sao tồn tại nổi ở những quốc gia và địa phương họ sống nhờ ở đợ, nơi chính quyền và dân bản địa luôn chèn ép, gây khó khăn.

Hoàn cảnh ấy khiến họ sáng tạo ra nhiều biện pháp làm giàu rất khôn ngoan. Thí dụ cửa hiệu cầm đồ và cho vay lãi là sáng tạo độc đáo của người Do Thái cổ đại – về sau gọi là hệ thống ngân hàng. Buôn bán cũng là một biện pháp tồn tại khi trong tay không có tài sản cố định nào.

Người ta nói dân Do Thái có hai bản năng: thứ nhất là bản năng kiếm tiền; thứ hai là bản năng làm cho tiền đẻ ra tiền – họ là cha đẻ của thuyết lưu thông tiền tệ ngày nay chúng ta đều áp dụng với quy mô lớn (còn ai kiếm tiền dễ hơn ngành ngân hàng?).

Tuy vậy, sự quá gắn bó với tiền bạc là một lý do khiến người Do Thái bị chê bai. Bạn nào đã đọc tiểu thuyết Ai-van-hô (Ivanhoe) của Walter Scott chắc còn nhớ mãi hình ảnh ông lão Do Thái Isaac (I-sắc) đáng thương, bố của nàng Rebeca xinh đẹp và thánh thiện, lúc nào cũng khư khư giữ túi tiền và bị hiệp sĩ Đầu Bò nhạo báng khinh bỉ thậm tệ. Kịch của Shakespeare đưa ra nhiều hình ảnh khiến người ta có cảm giác người Do Thái bần tiện, ích kỷ, xảo trá. Tập quán cho vay lãi của người Do Thái bị nhiều nơi lên án.

Hệ thống cửa hiệu của người Do Thái ở Đức là đối tượng bị Quốc Xã Hitler đập phá đầu tiên hồi thập niên 30. Người Đức có câu ngạn ngữ “Chẳng con dê nào không có râu, chẳng người Do Thái nào không có tiền để dành.” Karl Marx từng viết: Tiền bạc là vị thần gắn bó với người Do Thái; xóa bỏ chủ nghĩa tư bản sẽ kéo theo sự xóa bỏ chủ nghĩa Do Thái.

Người Do Thái có đóng góp rất lớn về lý thuyết và thực hành trong việc xây dựng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Đạo Do Thái coi làm giàu là bổn phận nặng nề của con người; nói “nặng nề” vì người giàu có trách nhiệm to lớn đối với xã hội: họ không được bóc lột người nghèo mà phải chia một phần tài sản của mình để làm từ thiện. Những người Do Thái giàu có luôn sống rất giản dị, tiết kiệm và năng làm từ thiện. Soros từng cúng 4 tỷ USD (trong tổng tài sản 7 tỷ) cho công tác từ thiện. Không một nhà giàu Do Thái nào không có quỹ từ thiện của mình. Từ đây có thể hiểu được tại sao cộng đồng Do Thái lại cùng giàu có như thế.

Tại sao người Do Thái thông minh?

Cuốn START-UP NATION, của Alphabook đăng một số bài viết liên quan tới những câu chuyện về nền kinh tế thần kỳ của Israel. Đính kèm là một bài viết “quảng cáo”.

” Người Do Thái là dân tộc thông minh nhất thế giới, họ dường như được sinh ra là để làm chủ thế giới này”. Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao họ lại thông minh như vậy? Tại sao họ lại được sinh ra với quá nhiều ưu việt như thế? Có phải tất cả đều là tự nhiên? Liệu Việt Nam chúng ta có thể tạo ra những thế hệ ưu việt như thế không?
Tất cả câu hỏi trên đều có thể giải đáp được, ngoại trừ câu hỏi cuối cùng vì nó sẽ được trả lời bởi chính các bạn, những con người của dân tộc Việt Nam. Bài viết dưới đây được lược dịch từ luận án của một tiến sĩ nước ngoài với tiêu đề gốc là “Why Jews Are Intelligent” (tạm dịch là “Vì sao người Do Thái thông minh”).
Trước hết xin được cung cấp một số thông tin tìm hiểu được về IQ (Intelligence Quotient) của người Do Thái. Hiện nay các nhà nghiên cứu về giáo dục và tâm lý tin rằng IQ trung bình của người Do Thái vào khoảng từ 110. Để so sánh thì IQ trung bình của thế giới là 100 và IQ trung bình của người Việt Nam là 94. Cách biệt sẽ không rõ ràng nếu chỉ nhìn vào những con số này. Mọi thứ sẽ trở nên thực sự khác biệt nếu như ta so sánh đến tỉ lệ (“thiên tài” IQ>=140 – cũng là mức yêu cầu trong số dân).

Với IQ TB của dân số là 94 thì tỉ lệ “thiên tài” sẽ là 1/924 hay 0,1%, tỉ lệ này sẽ là 1/261 hay 0,4% nếu IQ TB là 100. Sự khác biệt sẽ cực lớn vì với mức IQ TB là 110 như người Do Thái thì tỉ lệ những người có IQ đạt mức thiên tài này sẽ lên tới 2,3% (nghĩa là cứ 100 người sẽ có hơn 2 thiên tài).

Bài này tôi lược dịch và tổng hợp từ nhiều nguồn, nhân dịp nghe chuyện người Do Thái và vì thầy hướng dẫn hiện tại của tôi là một Giáo sư người Do Do Thái. Để mở đầu, xin được trích dẫn rằng, dân số Do Thái ở Anh có tên tuổi khiến tôi đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng xấp xỉ 13 triệu người (tức là khoảng 0.21% dân số thế giới – số liệu năm 2000), tức là cứ 470 người thì có 1 người Do Thái. Vậy nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0.21% dân số đảm nhiệm.
Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein, Sigmund Freud, Otto Frisch, .v.v. đều là người Do Thái. Dù không phải là chủng tộc lớn, vậy nhưng không một nhóm chủng tộc nào có thể sánh được với người Do Thái về khả năng và thành tích vượt trội. Kết hợp với những tính cách di truyền của người Do Thái như tham vọng, ham hiểu biết, tích cực, trí tưởng tượng phong phú, bền bỉ, sự thông minh của người Do Thái thực sự đã là đòn bẩy khiến người Do Thái đứng đầu trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống.

Những tên tuổi Do Thái hiện nay có thể kế đến là nhà tài phiệt George Soros (người có thể làm khuynh đảo thị trường tài chính thế giới, được xem là người đứng sau sự sụp đổ hệ thống chính trị ở Đông Âu và khủng hoảng tài chính Châu Á 1997); các cựu và chủ tịch Ngân hàng thế giới World bank đương nhiệm đều là người Do Thái ví dụ như James Wolfensohn, Paul Wolfowitz, Robert Zoellick. Diễn viên điện ảnh thông minh và có học thức thuộc hàng top Hollywood hiện nay là Natalie Portman cũng là người Do Thái, vừa theo học đại học Havard và tham gia bộ phim siêu phẩm Chiến tranh giữa các vì sao”.
Trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống như kỹ thuật, âm nhạc, khoa học và kinh doanh, 70% các hoạt động kinh doanh thế giới hiện nay đều do người Do Thái nắm giữ. Các lĩnh vực kinh doanh nổi bật như mỹ phẩm, thời trang, thực phẩm, vũ khí, khách sạn, công nghiệp phim ảnh (kể cả Hollywood và các trung tâm điện ảnh khác).

Trong năm thứ 2 đại học, vào tháng 12 năm 1980, tôi định đến California và tôi nảy ra ý tường, tôi tự hỏi sao trời lại cho họ những khả năng siêu phàm như vậy, liệu có điều gì trùng hợp chăng, loài người có thể tạo ra những người giống họ như việc sản xuất hàng hóa từ nhà máy không? Luận văn của tôi mất 8 năm để tập hợp thông tin từ tất cả các nguồn tin chính xác như đồ ăn, văn hóa, tôn giáo, sự chuẩn bị khi mang thai, .v.v. và tôi đem so sánh với những chủng tộc khác.

Người Do Thái ở Mỹ

Hãy bắt đầu bằng việc chuẩn bị cho thai kỳ. Ở Israel , điều đầu tiên tôi nhận thấy đó là người mẹ khi mang thai sẽ thường xuyên hát, chơi đàn, và luôn cố gắng giải toán cũng chồng. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy người mẹ luôn mang theo sách toán và đôi khi tôi giúp cô giải bài. Tôi hỏi cô, ‘việc này có phải là giúp cho thai nhi?’. Và cô trả lời, ‘Đúng vậy, tôi làm thế là để đào tạo đứa trẻ từ khi còn trong bụng mẹ như vậynó sẽ trở nên thông thái về sau.’ Và cô tiếp tục làm toán cho đến khi đứa trẻ được sinh ra.
Một điều khác tôi nhận thấy là đồ ăn. Người mẹ rất thích ăn hạnh nhân (almonds), chà là (dates) cùng sữa tươi. Bữa trưa cô ăn bánh mỳ và cá (không ăn đầu), salad trộn với hạnh nhân và những loại hạt khác vì họ tin rằng thịt cá tốt cho sự phát triển trí não nhưng đầu cá thì không. Thêm vào đó, theo văn hóa của người Do Thái, người mẹ khi mang thai sẽ cần phải uống dầu gan cá. Khi tôi được mời đến dùng bữa tối, tôi thấy rằng họ luôn dùng cá (phần thịt ở mình cá), họ không ăn thịt vì họ tin rằng thịt và cá khi ăn chung sẽ không tốt cho cơ thể.
Salad và các loại hạt là điều bắt buộc, đặc biệt là hạnh nhân. Họ luôn ăn hoa quả tươi trước bữa chính. Lý do là vì họ tin rằng việc ăn bữa chính trước rồi hoa quả sẽ khiến chúng ta buồn ngủ và khó tiếp thu bài ở trường.

Một vài ý kiến khác:

Theo FreeSkyy: Trước tiên, tôi kính gửi lời “Tri Ân” đến tác giả đã dùng cái tâm và thời gian để đúc kết một bài viết bổ ích về giá trị con người, giá trị của sự thành công đồng hành với tinh thần dân tộc …..
Mọi dân tộc đều có một cơ chế chung đó là “Trong cái khó ló cái khôn”; tuy nhiên, cái khôn có thể là thiên về mặt tích cực và cũng có thể ngược lại trở nên tiêu cực. Cái người Do Thái làm được đó là họ biết giá trị đồng tiền và họ biết cách làm sao để biến khả năng làm ra tiền trường tồn : đó là kiến thức, lòng trung kiên, và biết đầu tư vào những nghanh nghề không mai một : y tế, tài chánh, địa ốc (dài hạn), pháp lý (luật gia) và khoa kỷ …. Họ rất trung kiên theo đuổi mục đích của họ để xây dựng mọi thứ từ gốc mà lên.
Khi tôi còn trong ghế trường y, khóa của tôi có 120 sinh viên, trong đó đã 40 người là Do Thái, 20 người gốc Ấn Độ và số còn lại là mọi sắc dân khác; dĩ nhiên châu Á rất ít.
Phải nói rằng những sinh viên gốc Do Thái khi bắt đầu vào trường y thì họ đã được trang bị tận răng kể cả về kiến thức căng bản, và kiên thức “đối phó”. Đa số họ là những người con của các Bác Sĩ và đến từ gia đình rất giàu. Tuy nhiên, rất ít trong số họ sống sa hoa, nghệnh ngợm hay cao ngạo; mà ngược lại họ rất từ tốn đồng thời giàu lòng giúp đỡ. Họ sẵng lòng sang sẻ kiến thức, bài vở nhưng đó sự giúp đỡ đó là con dao hai lưỡi trong nghanh y vì sẽ tạo nên sự ỷ lại của các sinh viên “không tự chủ” và lâu dần sẽ phụ thuộc vào những người bạn học Do Thái này ……. cho đến kỳ thi toàn quốc (Step 1) thì lúc đó ” nội công” thật thụ mới là chính và chẳng ai giúp ai thì những kẻ ỷ lại, bám víu sẽ “chết”. Và dĩ nhiên là các anh Do Thái sẽ đậu cao và chính cái điểm ở Step 1 mới quyết định sinh viên nghanh Y được vào các khoa nào sau khi hoàn tất trường y và vào tu nghiệp (Residency Program).
Trái với sinh viên Do Thái, sinh viên Ấn Độ khá ích kỷ trong việc giúp nhau với các sinh viên khác sắc tộc; tuy nhiên, họ giống các sinh viên Do Thái là tính cộng đồng cao & được trang bị tận răng ……..
Khi nói đến điều trên thi sinh viên VN khá thiệt thòi từ sự chuẩn bị trước lúc vào trường, và cả sự giúp đỡ của các SV VN với nhau cho nên SV VN phải học rất chăm (2-3 lần) so với các SV Do Thái hy Ấn Độ để nắm kiến thức căng bản trong khi SV Do Thái hay Ấn Độ lại có thể phát huy tâm hiểu biết thêm một bậc

Theo Nam: 

Tôi tin vào có thượng đế .
Không biết bây giờ ở Việt Nam có còn dậy học sinh thuyết tiến hoá là khoa học đúng nhất nữa không ?( con người tiến hoá từ con khỉ ).
Bây giờ đã trải nghiệm cuộc sống và lớn tuổi hơn ,đặc biệt là sống ở những nước văn Minh hơn tôi mới thấy cách dậy học ở Việt Nam thật là ngu dốt .
Khoan hãy nói khoa học đúng sai ,đao to búa lớn
.Chuyện đơn giản nhất trong một cơ thể con người buồn vui ,đau ốm bệnh tật loài người chúng ta còn bó tay làm sao chúng ta hiểu được những gì cả tỷ năm trước ?.Ở Việt Nam cả một hệ thống giáo dục khẳng định như đinh đóng cột với những đứa nhỏ là con sâu bọ tiến hoá thành con cá con cá thành con chim con chim thành con khỉ và con khỉ thành người ????(phải chăng là những con khỉ đỉnh cao trí tuệ ?) sao những con cá con khỉ bây giờ không thành người đi.
Tôi rất thích cách dậy học ở Mỹ ,ở Mỹ họ dạy tất cả .Thuyết tiến hoá cùng các giả thuyết khác và họ nói với lũ trẻ rằng thuyết tiến hoá Chỉ là giả thuyết trong hàng ngàn giả thuyết để cho lũ trẻ tự tìm hiểu và tự quyết định đúng sai .
Ngay cả thuyết Cộng sản và tư bản cũng được dậy song hành và người học nghiên cứu và tự đưa ra quyết định cho riêng mình đúng sai ,thường giáo viên không kết luận ai đúng ai sai .
Quay lại nói chuyện người do Thái ,tôi tin rằng Tôn giáo đã gắn kết được những người do Thái và bảo tồn được Cộng đồng cũng như tiếng nói của họ qua hàng ngàn năm ,nhưng tôi hoàn toàn Bác bỏ về thức ăn đồ uống làm cho những đứa trẻ do Thái thông Minh .
Rõ ràng đây là một ơn đặc biệt chúa trời dành riêng cho người do Thái hoặc một nguồn gien gì đó đặc biệt .
Khi còn nhỏ ở việt Nam tôi cứ thắc mắc tại sao người ta lại tin vào chúa nhỉ ?khoa học chứng Minh rồi mà .Tôi tin là nhiều bạn trẻ Việt Nam vẫn ngu ngơ như vậy , cũng dễ hiểu vì bị nhồi sọ nhiều năm .Cái các bạn Cần hiểu là khoa học và niềm tin (tâm Linh ,tín ngưỡng ) là hai cái hoàn toàn khác biệt ,không thể dùng khoa học để chứng Minh niềm tin và ngược lại .
Khoa học có giải thích gì đi chăng nữa cũng không thể hiểu nổi tại sao thế giới được tạo ra hoàn Hảo đến vậy ,từ câu cỏ ,động vật , oxy ,môi trường xung quanh ta đến từng mạnh máu tế bào trong cơ thể ta hoàn Hảo tới mức Chỉ thiếu một Mạch máu hay thiếu một chút oxy trong khí quyển cũng sống không nổi .
Chưa kể tới Vũ trụ bao La với hàng tỷ hành tinh ,rồi ngoài Vũ trụ nữa là cái gì ….không bao giờ con người có thể hiểu nổi .
Tôi không biết ai là chúa ,nhưng tôi biết chắc chắn rằng phải có một bàn tay của ai đó tạo dựng ra thế giới này .Trong khi chính ta chưa hiểu và sẽ không bao giờ có thể hiểu hết được mọi chuyện thì mỗi người có quyền có niềm tin vào thượng đế của mình .Chỉ có niềm tin và tự do tín ngưỡng ,không áp đặt người khác với niềm tin của mình thì thế giới mới tốt đẹp hơn .
Buồn thay chủ nghĩa Cộng sản đã áp đặt cả một dân tộc vào một niềm tin duy vật biện chứng để tạo ra xã hội suy đồi đạo Đức nghiêm trọng như ngày hôm nay .

Theo Minh Nguyễn

Mình lại không tin rằng người Do Thái được Chúa Trời yêu đại hơn các dân tộc khác. Họ cũng mắc phải tội lỗi như bao nhiêu dân tộc khác thôi. Vì sao họ lại được yêu đại hơn?
Họ thành đạt là vì là đạo Judaism có sức kỷ luật cao, những sách Kinh Thánh của họ luôn được thông dịch và bổ sung hàng ngày để làm sao cho luật lệ và phong tục của họ thích hợp với lối sống hiện đại. Judaism được thiết kế rất tỉ mỉ nhiều nghìn năm nay với mục đích giữ gìn dân tộc họ. Có rất nhiều câu viết trong các sách thánh văn của họ dạy giảng về việc không nên trợ giúp các dân tộc khác. Bác sĩ của họ không được phép cứu chữa người nghoà, người ngoài bị nạn cũng không được giúp và v.v. Trong sách còn nói thêm họ chỉ có quyền giúp người khác chỉ khi nếu họ không giúp họ sẽ bị các dân tộc khác ghét bỏ và làm hại. Ngoài ra đạo của họ cũng có nói rất nhiều về kinh tế, kinh doanh và cách đối xử với tiền bác. Hơn thế nứa người Do Thái cũng tin rằng họ cao siêu hơn những dân tộc khác. Bởi niềm tin và sự tư tin này mà họ mới có thể đạt được nhiều thứ trong cuộc sông chăng? Bằng tiếng Anh đây gọi là self-fulfilling prophecy. Nếu tin mình giỏi giang, thì mình sẽ giỏi giàng. Nếu tin là mình sẽ giàu, mình sẽ giàu.
Thêm nữa là dân tộc họ luôn giúp đỡ nhau ở khắp mọi nơi. Người giàu rồi thì kéo người nghèo lên. Họ tạo dựng ra rất nhiều chường trình và các tổ chức toàn cầu để giúp cho họ có nhiều cơ hội trong cuộc sống hơn. Mình đi học cùng nhiều người Do Thái, mình thấy ra trường họ kiếm được việc tốt không phải do bộ não cao siêu của họ, cũng không phải do cơ thể phi thường, mà là do rằng họ quen biết rộng rãi, họ coi trọng việc học. Nhà trường có cả quỹ riêng cho nhưng sinh hoạt của họ bao cấp cho họ sách học miễn phí, học bổng, du lịch nước Israel, bữa tối mỗi chiều thứ sáu và v.v.

Tôi cũng rất muốn tìm hiểu thêm về Thượng Đế và thuyết tiến hóa. Quả thật làm sao chúng ta có thể nói đúng sai nếu chúng ta không tận mắt chứng kiến lịch sử? Tôi tin là chúng ta đều đang trong quá trình tìm hiểu và học hỏi. Nhiều khi tôi nghĩ nếu tôi tin vào Thượng Đế và rằng ông/bà đã tạo ra tôi thì tôi làngười hữu thần. Nhưng Thượng Đế liệu có hữu thần không? Hay Thượng Đế là người vô thần cũn như bao nhiều người khác?

Chưa có bình luận

Vui lòng để lại bình luận của bạn vào ô bên dưới